Có những trang viết càng lùi xa trong thời gian càng trở nên quý giá. Những dòng nhật kí, bài thơ và trang hồi ức của các thế hệ giảng viên từng công tác ở Việt Bắc đã lưu giữ không chỉ câu chuyện của một thời gian khó, mà còn lưu giữ một phần kí ức của Khoa Ngữ văn. Giở lại những dòng nhật kí được chép lại 20 năm trước, những dòng thơ dẫu đã ngả màu thời gian, thế hệ giảng viên và sinh viên hôm nay như được chạm vào thế giới cảm xúc, tự hào và kính trọng... Các thầy lên ngàn không chỉ bằng trách nhiệm của một nhà giáo, mà các thầy đã sống và làm việc bằng tất cả yêu thương và trách nhiệm.
Đó là niềm tự hào của người giảng viên trẻ Phan Thanh Lương năm ấy khi thấy được hòa thanh xuân của mình cùng vận mệnh non sông trong dịp ngày khai giảng đầu tiên. Về với núi rừng Việt Bắc giữa những năm đạn bom ác liệt, xúc cảm đầu tiên của thầy không hề vướng chút âu lo, mà rộn rã một niềm hân hoan kì lạ. Chạm đất Thái Nguyên đúng ngày sinh nhật tuổi ba mươi hai, giữa tiếng xích xe cót két và điệp trùng sắc núi, tâm hồn thi sĩ đã ngân lên những tiếng reo vui:
Ba mươi năm trước chào ánh sáng,
Bé bỏng biết gì buổi sơ sinh.
Hôm nay đi giữa rừng cách mạng,
Rực rỡ trưa hồng, biếc núi xanh!
(Theo bài viết “Mười lăm năm ấy”- Kỉ yếu 40 năm khoa Ngữ văn xây dựng và trưởng thành)
Nếu những ngày đầu là sự phơi phới lãng mạn thì những đêm sơ tán giữa rừng sâu lại chứa đựng những cảm xúc nghẹn ngào mà thấm thía nhất của tình người.
Đọc trang hồi ức của thầy Lương Duy Thứ, chúng ta không khỏi xúc động với câu chuyện “không thể nào quên” thầy kể lại về việc cô giáo Yến - người vợ yêu quý của thầy, người mẹ của hai bé nhỏ, một cháu 4 tuổi và một bé chưa đầy một tuổi - gặp cơn nguy kịch vì đau ruột thừa giữa chốn rừng mà trạm xá không có thuốc men, bác sĩ, chỉ có một cô y tá chưa có kinh nghiệm gì. Bé con bốn tuổi chỉ biết vùi đầu khóc ngất bên cáng cứu thương: “Mẹ không được chết đâu nhá!”.

Nhưng cũng chính trong giây phút tuyệt vọng ấy, cảm xúc của thầy đã vỡ òa trước tình đồng nghiệp, tình người Việt Bắc. Thầy nghẹn ngào trước hình ảnh các cô giáo nhường từng rổ sắn luộc, đĩa bánh bột mì hấp; các chị cấp dưỡng tất tả chẻ nứa bó đuốc soi đường. Thầy xúc động đến tột cùng khi nhìn tám người thầy giáo tuổi đã trung niên, những đồng nghiệp Tày, Thái, Ba Na lặng lẽ đặt cáng lên vai, châm đuốc bập bùng mở lối xuyên 10km rừng thẳm. Nỗi sợ hãi đã nhường chỗ cho sự trân trọng và biết ơn sâu sắc. Trong trái tim thầy Lương Duy Thứ suốt nửa thế kỉ sau, hình ảnh ánh đuốc rừng đêm ấy không còn là một cuộc cứu nạn đơn thuần, mà lung linh như trái tim của chàng Đan-cô xé toang lồng ngực để dẫn lối qua tăm tối, một biểu tượng thiêng liêng về tình đồng chí, nghĩa đồng bào.
Sống hết mình trong gian nan, nên ngày rời xa lại đau đáu một nỗi niềm níu kéo. Cảm xúc chia tay sau 15 năm gắn bó thốt lên từ sâu thẳm đáy lòng thầy Phan Thanh Lương. Chia tay một mái trường không chỉ là rời một nơi làm việc, mà là để lại một phần máu thịt của đời mình. Cái cảm xúc bịn rịn, thủy chung ấy bền bỉ lạ kì: Dù năm tháng trôi qua, dù cách trở nghìn trùng Nam - Bắc, đến năm 2006, nét chữ trên trang giấy lưu bút của thầy Phan Thanh Lương gửi về Khoa Ngữ văn vẫn thấm đậm một nỗi niềm thương nhớ khôn nguôi!

Một trang lưu bút của thầy Phan Thanh Lương ghi trong Sổ vàng truyền thống của Khoa năm 2006 – một dấu nối giữa kí ức của thế hệ đi trước và Khoa Ngữ văn hôm nay. Những trang hồi ức ấy hôm nay vẫn còn nguyên giá trị đối với các thế hệ Khoa Ngữ văn. Bởi trong đó không chỉ có câu chuyện của một thời gian khó, mà còn có tình yêu nghề, tình đồng nghiệp và sự gắn bó sâu nặng với mái trường. Đó cũng là những giá trị được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, làm nên truyền thống của Khoa Ngữ văn hôm nay.
Xin được tri ân những thế hệ thầy cô đã đặt những viên gạch đầu tiên cho hành trình 60 năm xây dựng và trưởng thành của Khoa Ngữ văn!
Nguồn tin: Ban truyền thông Khoa Ngữ văn