Đang xử lý.....

THỜI SINH VIÊN – NHỮNG YÊU THƯƠNG CÒN LẠI… 

     Có một thời để nhớ, một thời để yêu và một mái nhà để luôn muốn trở về…

    Thời sinh viên dưới mái trường Sư phạm luôn là khoảng trời rực rỡ và đong đầy kỉ niệm trong cuộc đời mỗi người. Nơi ấy không chỉ có sách vở, giảng đường, mà còn lưu giữ những tình cảm trong trẻo, những bài học thầy cô và tình bạn tri kỉ đi cùng năm tháng. Xin trân trọng giới thiệu đến quý thầy cô, các bạn sinh viên và các thế hệ cựu sinh viên bài viết vô cùng xúc động của Cô Cao Thị Hồng - Cựu sinh viên Khóa 20 gửi về Khoa.  

     Những trang viết ngược dòng thời gian sẽ đưa chúng ta trở về với một thời gian khó nhưng ấm áp tình người, nơi “những yêu thương” vẫn còn vẹn nguyên như ngày đầu.

 

Cao Thị Hồng

(Cựu sinh viên K20, khoa Ngữ văn – ĐHSP Việt Bắc, nay là ĐHSP Thái Nguyên)

     Mười năm sau chiến tranh, vào giữa thập niên 1980, khi đất nước đang ở ngưỡng cửa công cuộc đổi mới, đời sống vẫn còn bộn bề khó khăn, lứa chúng tôi bước chân vào đại học. Dưới mái trường Đại học Sư phạm Việt Bắc (nay là Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên), chúng tôi cùng trải qua những năm tháng sinh viên nhiều thiếu thốn, vất vả. Có lẽ cũng vì thế mà biết bao kỉ niệm của một thời, đến bây giờ, vẫn rõ ràng và gần gũi như mới hôm qua…

    Những gương mặt thầy cô thuở ấy mãi mãi không nhòa trong ký ức thời sinh viên của chúng tôi: Thầy chủ nhiệm Nguyễn Đức Liễn, cô chủ nhiệm Nguyễn Thị San; Các thầy cô bộ môn: Thầy Lâm Đình Tiến, thầy Vũ Châu Quán, thầy Phạm Luận, thầy Hoàng An, thầy Vi Hồng, thầy Trần Thế Phiệt, thầy Đỗ Ngoạn, thầy Nguyễn Văn Lộc, thầy Vũ Nho, thầy Lương Đức Bèn, thầy Ngô Văn Đức, thầy Cao Xuân Thử, thầy Bàn Tiến Tân, thầy Trần Hữu Lợi, thầy Hoàng Văn Long, thầy Nguyễn Long, thầy Trần Ngọc Chùy,  cô Phạm Thị My, thầy Lê Kim Hà, thầy Phạm Mạnh Hùng, thầy Nguyễn Phạm Hùng, thầy Vũ Anh Tuấn, cô Nguyễn Thị Vượng, cô Trần Thị Việt Trung…và nhiều thầy cô khác…

     Riêng thầy Đỗ Bình dạy tiếng Nga, dù không biên chế ở khoa Ngữ văn, vẫn luôn gắn bó, thân thiết với chúng tôi. Nhớ những giờ học tiếng Nga, qua các câu chuyện hấp dẫn của thầy, chúng tôi như được chu du đến nước Nga xa xôi, gặp gỡ những con người đôn hậu và ngắm nhìn thiên nhiên tươi đẹp nơi ấy.

    Giờ đây, có thầy cô đã về miền mây trắng, có thầy cô nghỉ hưu, sống an vui cùng con cháu ở mọi miền đất nước… Ngày ấy, trong khó khăn chung của đất nước, thầy cô vất vả vô cùng, dù còn trăm bề thiếu thốn, nhưng thầy cô vẫn nhiệt huyết, tận tâm, gần gũi và sẻ chia với sinh viên.

    Nhớ những buổi liên hoan văn nghệ với các tiểu phẩm, tiết mục ca nhạc, kịch do thầy Trần Thế Phiệt, thầy Phạm Mạnh Hùng trực tiếp cùng các nhóm sinh viên dàn dựng công phu. Những buổi diễn ấy được sinh viên khoa Ngữ văn và cả các khoa khác háo hức chờ đón. Giữa những năm tháng khó khăn, khi chúng tôi hiếm có dịp được xem sân khấu, phim ảnh, những chương trình ngoại khóa ấy thật hấp dẫn. Đó còn là dịp để chúng tôi trau dồi kiến thức, bồi đắp khả năng cảm thụ và rèn luyện những kĩ năng cần thiết cho việc dạy văn sau này.

   Đặc biệt, khoa Ngữ văn ngày ấy thường tổ chức những đêm thơ sinh viên. Thầy cô cùng chúng tôi đọc thơ, bình thơ, chia sẻ những rung động trước cái đẹp của văn chương. Nhớ thầy Vũ Nho say sưa bình thơ sinh viên với giọng đọc đầy cảm xúc, khích lệ chúng tôi sáng tác. Có lẽ từ những đêm thơ và sinh hoạt văn chương ấy, mấy đứa chúng tôi nảy ra ý tưởng lập nhóm “Hoa Trâm bầu”, cùng nhen nhóm khát vọng viết. Không ngờ sau này, cả ba đứa trong nhóm (Cao Thị Hồng, Nguyễn Thúy Quỳnh, Nguyễn Kiến Thọ) đều trở thành những người cầm bút, gắn bó với văn chương. Đến bây giờ, không khí ấm áp của những đêm thơ trên giảng đường vẫn đọng mãi trong kí ức tôi.

   Nhớ những dãy lớp học cấp bốn cũ kĩ, rêu phong; nhớ kí túc xá với những chiếc giường tầng khung sắt, ánh điện tối lờ mờ, không đủ sáng để đọc sách. Nhớ những buổi sáng, sang lắm mới có chút xôi sắn của “bà Mùi” để ấm dạ lên lớp; còn thường ngày, bữa sáng chỉ là củ khoai, khoanh sắn luộc.

    Nhớ những ngày học đến tiết năm, tiết sáu, bụng đã đói cồn cào. Tan lớp, cả bọn ào về kí túc xá, cắp rổ rá, bát đĩa lên nhà ăn lĩnh khẩu phần. Bữa ăn thường là cơm gạo hẩm, có khi là thứ “bánh mì” được viên thành nắm rồi luộc. Canh thì chúng tôi gọi đùa là canh “toàn quốc”, vì cả nồi chỉ lơ thơ dăm ba cọng rau muống, còn lại toàn nước. Thỉnh thoảng được bữa thịt lợn hay đậu phụ cải thiện, đứa nào cũng hoan hỉ như được ăn cỗ!

   Nhớ những đêm mùa đông giá lạnh, ôn bài đến khuya, mấy đứa lục rá cơm nguội cứng đơ còn sót từ bữa chiều, rắc lên ít muối vừng. Có hôm muối vừng cũng hết, chỉ còn vài hạt muối trắng, vậy mà vẫn xúc ăn ngon lành, vừa ăn vừa tán tếu đủ mọi chuyện trên đời…

    Nhớ những ngày mưa tầm tã, bầu trời luôn u ám, cả lớp đi lao động cuốc than ở Phấn Mễ để gây quỹ cho khoa. Nơi ăn chốn ở khổ sở, người ngợm lấm lem bụi than; đói và… buồn, nhưng vẫn chăm chỉ xúc than, chẳng đứa nào bỏ cuộc. Giữa những ngày ấy, chúng tôi vẫn làm thơ, ghi vào sổ tay, như để giữ lại chút vui tươi giữa bao nhọc nhằn. Trên chuyến xe trở về kí túc xá, mưa tầm tã, đói cồn cào…mỗi đứa được ăn một miếng bánh chưng (mua ở Bờ Đậu, Đại Từ), có lẽ trong đời chưa bao giờ tôi được ăn miếng bánh chưng ngon như thế!

    Thời ấy, Nhà nước vừa đổi tiền, đời sống vốn đã khó lại càng chật vật. Có những lúc sinh viên còn phải “nghỉ đói” – cách nói nửa đùa nửa thật của chúng tôi về những đợt tạm dừng học vì nhà trường không có gạo để cấp. Bây giờ kể lại nghe khó tin, nhưng đó là một phần kí ức của thế hệ chúng tôi.

    Học tập trong hoàn cảnh nhiều khó khăn như vậy, phần lớn chúng tôi vẫn chăm chỉ học hành, đều đặn lên thư viện đọc sách mỗi chiều. Đọc sách để quên đi cái đói cồn cào…

    Và làm sao quên được những trận bóng đá “kinh điển” giữa khoa Văn với các khoa khác! Trên sân, các cầu thủ thi đấu hết mình; ngoài sân, đám cổ động viên chúng tôi cũng cuồng nhiệt chẳng kém, hò hét đến khản cả cổ. Năm ấy, khoa Ngữ văn lần đầu tiên giành chức vô địch giải bóng đá sinh viên toàn trường. Niềm vui vỡ òa! Chúng tôi thức trọn đêm hò hét (chứ không phải hát!), sung sướng đến quên cả trời đất.

      Riêng tôi, niềm vui chiến thắng còn gắn với một kỉ niệm vừa buồn cười vừa tiếc nuối. Vì mải chạy theo đám đông, hò la cổ vũ, tôi đánh rơi mất chiếc bút máy rất quý mà chẳng hay biết. Mãi hôm sau lên lớp mới phát hiện ra, tiếc mãi không nguôi! Bởi thời ấy, có được một cây bút máy tốt, viết vừa tay đâu phải chuyện dễ dàng. Thế là mỗi lần nhắc đến chức vô địch của khoa Văn, tôi lại nhớ cả chiếc bút máy đã “hi sinh” cho niềm vui chiến thắng ấy!

      Tôi cũng không thể quên cuộc thi viết bài luận về “Lý tưởng của tuổi trẻ” do Trung ương Đoàn và Bộ Giáo dục phối hợp tổ chức cho sinh viên các trường đại học. Với sự trong sáng và khát vọng chân thành của tuổi hai mươi, tôi viết bài “Giáo dục miền núi và khát vọng cống hiến của tuổi trẻ”, bày tỏ ước mơ được đến những miền xa xôi của đất nước để dạy học, mang tri thức đến với lớp trẻ vùng cao. Bài luận được điểm cao, nhận giải thưởng của cuộc thi; tôi còn được miễn thi môn Chính trị khi tốt nghiệp. Nhưng điều ở lại sâu đậm nhất trong tôi không phải là giải thưởng, mà là ước mơ đã gửi vào bài viết ấy.

      Ra trường, tôi dạy học ở một trường chuyên giữa trung tâm thành phố Thái Nguyên, rồi xây dựng gia đình. Có lúc, tôi nghĩ giấc mơ được đến với học trò vùng cao có lẽ chỉ còn là một kỉ niệm đẹp. Nhưng rồi cơ duyên đến. Khi chuyển cơ quan công tác, tôi có dịp đặt chân đến nhiều vùng xa xôi, khó khăn của các tỉnh biên giới phía Bắc, được mang những kiến thức mình tích lũy để chia sẻ với anh chị em ở các xã, huyện miền núi. Không hoàn toàn như cách tôi từng hình dung khi còn là sinh viên, nhưng ước mơ được góp sức cho những miền đất khó khăn đã có dịp trở thành hiện thực. Và thế là tôi xách va li lên đường, không ngại gian khó, cũng chẳng tính toán thiệt hơn, bởi tự lòng mình hiểu đó là những công việc có ý nghĩa, là điều mình cần làm khi còn có thể.

     Trên những nẻo đường ấy, tôi thầm biết ơn ước mơ đã nuôi dưỡng mình từ thời đại học. Hóa ra, có những lí tưởng tưởng như đã ngủ yên nhưng vẫn âm thầm dẫn dắt những lựa chọn của chúng ta.

     Giờ đây, hơn bốn mươi năm kể từ ngày chúng tôi gặp nhau dưới mái trường đại học, bạn bè Văn K20 mỗi người một số phận, một hành trình. Có người gắn bó trọn đời với nghề dạy học, có người rẽ sang những công việc khác; có người thuận lợi, may mắn, có người trải qua không ít gian nan, mất mát. Nhưng khi gặp lại nhau, những khác biệt về địa vị, danh vọng hay điều kiện sống dường như chẳng còn quan trọng nữa. Điều quý nhất là chúng tôi vẫn nhận ra nhau, vẫn có thể cùng nhắc lại những tháng năm gian khó mà thân thương, vẫn giữ được tình bạn từ thuở tóc còn xanh.

      Hôm nay, trong ngày hội khoa, bao kỉ niệm thời sinh viên lại ùa về: những dãy lớp học rêu phong, bữa cơm gạo hẩm, bát canh “toàn quốc”, ánh điện kí túc xá lờ mờ; cả tiếng reo hò sau trận bóng đá và những câu thơ vang lên trong đêm. Có những điều ngày xưa tưởng rất quan trọng, giờ nghĩ lại hóa ra chẳng còn mấy ý nghĩa. Và cũng có những điều tưởng chừng bình thường, giản dị, nay lại trở nên vô cùng quý giá.

      Xin trân trọng gửi tới các thầy cô và anh chị em sinh viên các khóa của khoa Ngữ văn, đặc biệt là bạn bè Văn K20, những tình cảm thân thương cùng lời chúc tốt đẹp nhất. Kính chúc thầy cô và các bạn luôn mạnh khỏe, an vui, hạnh phúc. Mong chúng ta còn có thêm nhiều dịp gặp nhau để cùng nhắc lại một thời sinh viên gian khó mà đong đầy ân tình.

      Ngày ấy, chúng tôi nghèo thật, thiếu thốn đủ bề, nhưng lại có những thứ mà tiền bạc không thể mua được: tình bạn, tình thầy trò, những ước mơ trong trẻo và niềm tin chân thành vào cuộc sống. Thời gian có thể mang đi nhiều thứ, nhưng tình nghĩa và những yêu thương ấy mãi mãi còn ở lại…

 

 

Nguồn tin: Ban truyền thông khoa Ngữ văn

 

 

 

loading....